Danh mục
Bí kíp trị tự ra mồ hôi bằng phương pháp y học cổ truyền Tự ra mồ hôi là chứng bệnh mà mồ hôi tự chảy ra ở toàn thân không phải do hoạt động gắng sức, thời tiết nóng bức hay mặc quá nhiều quần áo. Vậy trong y học cổ truyền có những phương pháp nào chữa trị bệnh trên Khám phá công dụng tuyệt vời của ...
Trang chủ > Bài Thuốc Y Học Cổ Truyền > Bí kíp trị tự ra mồ hôi bằng phương pháp y học cổ truyền

Bí kíp trị tự ra mồ hôi bằng phương pháp y học cổ truyền

1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (2 votes, average: 5,00 out of 5)
Loading...

Bài Thuốc Y Học Cổ Truyền 685 Lượt xem

Tự ra mồ hôi là chứng bệnh mà mồ hôi tự chảy ra ở toàn thân không phải do hoạt động gắng sức, thời tiết nóng bức hay mặc quá nhiều quần áo. Vậy trong y học cổ truyền có những phương pháp nào chữa trị bệnh trên

Y học cổ truyền trị hiệu quả bệnh tự ra mồ hôi

Y học cổ truyền trị hiệu quả bệnh tự ra mồ hôi

Thưa bác sĩ, tự ra mồ hôi có những thể bệnh nào?

Trong y học cổ truyền, tự ra mồ hôi (tự hãn) được phân thành ba thể bệnh chính:

1) Dinh vệ bất hòa: Vã mồ hôi nhiều kèm theo triệu chứng sợ gió, toàn thân đau nhức, có thể có cảm giác sốt nhẹ, đau đầu, đau gáy, mạch phù hoãn, rêu lưỡi trắng mỏng.

2) Phế tỳ khí hư: Có bệnh lý đường hô hấp mạn tính, nhất là bệnh lý hen suyễn, mệt mỏi như mất sức, mồ hôi vã ra nhiều ngay cả khi nghỉ ngơi, sắc mặt nhợt nhạt, ăn kém, chậm tiêu, dễ rối loạn tiêu hóa, mạch hư nhược, rêu lưỡi trắng mỏng.

3) Lý nhiệt chưng bức: Có cảm giác nóng bức phát sốt, vã mồ hôi toàn thân hay ở đầu, tay chân hoặc nửa người, môi khô miệng khát, mắt đỏ, thích uống nước lạnh, ngực bụng đầy tức, nóng lòng bàn tay và bàn chân, tinh thần bức bối, tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện táo kết, mạch hoạt sác hoặc trầm thực, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dính hoặc vàng khô.

Vậy cách trị liệu chứng tự hãn ra sao?

Về mặt trị liệu, ngoài việc sử dụng các biện pháp dùng thuốc hay không dùng thuốc theo quan điểm biện chứng luận trị, đông y còn vận dụng những kinh nghiệm dân gian hết sức phong phú. Dưới đây, xin được giới thiệu một cách trị liệu như sau:

Day bấm huyệt

Hàng ngày, dùng ngón tay cái hay ngón trỏ day bấm hai huyệt Quan nguyên và Khí hải theo chiều kim đồng hồ với một lực vừa phải, mỗi huyệt chừng 2 phút, nhằm mục đích ôn dương liễm hãn (làm phấn chấn dương khí mà cầm mồ hôi). Vị trí huyệt Quan nguyên: lấy ở điểm nối 3/5 trên và 2/5 dưới của đoạn nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu. Vị trí huyệt Khí hải: lấy ở điểm nối 1,5/5 trên với 3,5/5 dưới của đoạn nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu.

Trong y học cổ truyền có nhiều cách chữa bệnh tự hãn

Trong y học cổ truyền có nhiều cách chữa bệnh tự hãn

Thuốc sắc

Có thể dùng một trong những bài thuốc y học cổ truyền sau đây:

Bài 1: Phù tiểu mạch 30g, ma hoàng căn 9g, sắc kỹ, chia uống hai lần sáng và chiều.

Bài 2: Ðậu đen 100g, táo đỏ 20 quả, hoàng kỳ 50g, sắc uống.

Bài 3: Nhân sâm 5g, hoàng kỳ 20g, bạch truật 12g, cam thảo 6g, ngũ vị tử 8g, sắc uống.

Bài 4: Phù tiểu mạch 50g, long nhãn 12g, táo đỏ 6 quả, cam thảo 10g, sắc uống; bài 5: Mộc nhĩ 50g, lá dâu 30g, đại táo 6 quả, sắc uống.

Bài 6 Nhân sâm 9g, hoàng kỳ 9g, bạch truật 9g, bạch linh 9g, táo nhân 9g, bạch thược 9g, thục địa 9g, sinh mẫu lệ 9g, ô mai 9g, phù tiểu mạch 12g, đại táo 6 quả, sắc uống.

Thuốc bột

Dùng nhân sâm 10g, mạch môn 15g, ngũ vị tử 15g, ba thứ sấy khô, tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g với nước ấm. Công dụng: Ích khí sinh tân, liễm âm chỉ hãn. Ðây chính là bài thuốc cổ Sinh mạch ẩm hay còn gọi là Sinh mạch tán, trong đó nhân sâm bổ phế ích khí và làm sinh dịch mới; Mạch môn dưỡng âm thanh phế; Ngũ vị tử bổ ích tâm khí, liễm phế và cầm mồ hôi. Ba vị hợp dùng: một bổ, một thanh, một liễm làm cho phần khí được hồi phục, phần âm được bổ sung và mồ hôi không vã ra nữa.

Cứu huyệt

Chọn dùng một trong hai cách:

Cách 1: Dùng điếu ngải cứu huyệt Âm khích trong 30 phút, mỗi ngày 1 lần. Cách làm điếu ngải: Lấy lá ngải cứu phơi khô trong bóng râm, cho vào cối giã thật mịn, loại bỏ gân xơ rồi dùng giấy mỏng cuốn thành từng điếu như cuốn thuốc lá. Vị trí huyệt Âm khích: Dùng ngón tay cái đặt trên lằn chỉ cổ tay ngay dưới ô mô út thấy có một cục cứng, đó là xương đậu, từ đây đo lên phía trên cẳng tay 0,5 tấc để lấy huyệt;

Cách 2: Hoàng kỳ 20g, ngũ bội tử 10g, phù tiểu mạch 10g, phòng phong 15g, bạch truật 20g, uất kim 10g. Tất cả tán mịn, lấy lượng vừa đủ trộn với rượu trắng rồi đắp lên rốn và huyệt Khí hải, tiếp đó đốt điếu ngải cứu lên phía trên, mỗi huyệt chừng 30 phút, mỗi ngày 1 lần.

Nguồn: Y học cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh

Có thể bạn quan tâm

Cây đinh lăng

Cây đinh lăng – Thần dược dân gian trị bách bệnh

Cây đinh lăng là loại cây khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của ...